Đề thi THPT Quốc gia môn Toán năm 2015, De thi thu THPT Quoc Gia nam 2015

You are here: Home »

Like VNMATH on FACEBOOK để ủng hộ VNMATH.

Nghề làm toán ở Mỹ

Một số thông tin tham khảo về nghề làm toán ở Mỹ, theo Bộ Lao Động Mỹ: http://www.bls.gov/oco/ocos043.htm (Occupational Outlook Handbook, 2008-09 Edition), và theo báo cáo Mathematics In Industry của SIAM (Society for Industrial and Applied Mathematics (Hội toán học ứng dụng Mỹ ))

Toán học thường được chia làm hai loại, lý thuyết (hay còn gọi là toán thuần túy –pure mathematics, hay toán cơ bản - fundamental mathematics) và ứng dụng (applied mathematics), tuy rằng không có danh giới rạch ròi giữa hai loai đó. Các “nhà toán học ứng dụng” dùng các lý thuyết, mô hình, định luật, công cụ toán học (mà một phần đáng kể là do các “nhà toán học lý thuyết” tạo ra) và công cụ tính toán (máy tính và các phần mềm) để giải quyết các vấn đề trong kinh tế, khoa học, kỹ nghệ, quản lý, v.v. Ngoài ra, có nhiều nghề liên quan mật thiết đến toán học, nhưng những người làm những nghề đó không gọi là nhà toán học mà được gọi với những tên khác, ví dụ như: nhà vật lý, kỹ sư công nghệ thông tin, giáo viên dạy toán phổ thông, nhà thống kê (statistician — sử dụng một chuyên ngành của toán học, nhưng được tính là nghề khác), v.v.

Năm 2006 ở Mỹ có 3033 người được tuyển việc với danh nghĩa nhà toán học (mathematician), kể cả lý thuyết lẫn ứng dụng). Trong đó có 412 người được nhận việc academic (các trường đại học cao đẳng), 1302 người vào làm cho các cơ quan chính phủ (như Bộ Quốc Phòng, NASA, …), và 1155 người làm cho “doanh nghiệp” (công nghiệp, tài chính, …). Trong số 1155 người này, có 748 người làm các công việc nghiên cứu & phát triển, 277 người làm tư vấn quản trị và kỹ thuật, và 112 người làm trong các dịch vụ kiến trúc và kỹ sư. Lương trung bình (median) của các nhà toán học ở Mỹ năm 2006 là quãng 87 nghìn USD, trong đó có 10% số người có lương cao hơn 132000, và 10% số người có lương thấp hơn 43500.

Về môi trường làm việc, các nhà toán học thường có phòng làm việc khá tiện nghi và thoải mái. Nhiều nhà toán học ứng dụng làm việc trong các nhóm nghiên cứu trong đó có những người là chuyên gia các lĩnh vực khác. Các nhà toán học làm việc trong academia (đại học và viện nghiên cứu) thường có trách nhiệm giảng dạy đi kèm với trách nhiệm nghiên cứu, và có thể có các trợ lý là nghiên cứu sinh và thực tập sinh. Đi công tác xa khá thường xuyên (dự hội nghị, hội thảo, hợp tác khoa học, …) là một đặc điểm hay thấy ở các nhà toán học.

Thông thường để nhận được một công việc với danh nghĩa nhà toán học, điều kiện không thể thiếu là phải có bằng PhD về toán. Vào năm 2007, có khoảng 300 chương trình sau đại học (graduate) về toán tại Mỹ.

Hầu hết các trường đại học (university) và cao đẳng (college) ở Mỹ có chương trình đại học (Bachelor) về toán. Các môn không thể thiếu được trong chương trình là giải tích (calculus), đại số (linear and abstract algebra), và phương trình vi phân (differential equations). Ngoài ra có thể có thêm nhiều môn khác, như logic, giải tích nhiều biến, giải tích phức, tô pô, giải tích số, toán rời rạc, xác suất thống kê, v.v. Các trường thường khuyến khích học sinh ngành toán học lấy bằng kép (double major): toán và một chuyên ngành khác (như máy tính, kỹ sư, kinh tế, sinh vật, v.v.). Bằng kép như vậy thuận lợi cho xin việc và cho công việc về sau. Những người có bằng Đại Học (Bachelor) hoặc Cao học (Master) về toán có thể làm những nghề liên quan đến toán, ví dụ như lập trình viên, phân tích viên, giáo viên dạy toán, v.v. Chỉ riêng nghề dạy toán cho các trường postsecondary (trung cấp ?) năm 2006 ở Mỹ đã tuyển đến 54 nghìn người.

Theo báo cáo Mathematics In Industry của SIAM, thì các kỹ năng sau được đánh giá là quan trọng nhất đối với các nhà toán học làm việc trong môi trường nonacademic (tức là trên 85% các nhà toán học ở Mỹ):




















Problem solving (Giải quyết vấn đề)Skill in formulating, modeling, and solving problems from diverse and changing areas(Kỹ năng thiết lập, mô hình, và giải quyết vấn đề)
Flexibility (Tính linh hoạt)Interest in, knowledge of, and flexibility across applications (Sự quan tâm, kiến thức, và tính linh hoạt các ứng dụng)
Computation( Tính toán)Knowledge of and experience with computation (Kiến thức và kinh nghiệm về tính toán)
Communication (Giao tiếp)Communication skills, spoken and written (Các kĩ năng giao tiếp: nói và viết
Teamwork (Làm việc theo nhóm)Adeptness at working with colleagues (Thành thạo làm việc theo nhóm)(”teamwork“)
Tất nhiên, đấy cũng là những kỹ năng quan trọng cho cả các nhà toán học làm việc trong môi trường academic.

Kỹ năng tinh toán là đặc biệt quan trọng: 93% các nhà toán học trong môi trường nonacademic đánh giá kỹ năng tính toán (computing skills) là không thể thiếu trong công việc của họ. Dưới đây là những chuyên ngành toán được dùng nhiều nhất trong môi trường nonacademic (số % bên phải là số nhà toán học nonacademic dùng đến nó trong công việc):





































NgànhPhần trăm
Modeling and simulation (Mô hình và mô phỏng)73%
Numerical methods/analysis (Giải tích và phương pháp số)65%
Statistics (Thống kê)55%
Probability (Xác suất)50%
Engineering analysis/differential equations (Phương trình vi phân)50%
Operations research/optimization (Tối ưu)38%
Discrete mathematics (Toán rời rạc)26%
Báo cáo trên của SIAM đã hơi cũ (từ năm 1998) và từ đó đến nay tình hình có thể đã thay đổi đôi chút, nhưng về cơ bản các kết luận trên vẫn đúng. Ứng dung vào tình hình Việt Nam: do Việt Nam đang thụt lùi so với thế giới (ít nhất) mấy chục năm, nên các thông tin phía trên có thể dùng làm định hướng cho Việt Nam trong những năm tới.

Về VNMATH.COM

VNMATH hoạt động từ năm 2008 với slogan Trao đổi để học hỏi, Sẻ chia để vươn lên. Hiện nay VNMATH.COM là trang web Toán học có lượt truy cập lớn nhất Việt Nam.

Chia sẻ bài viết này


Bài viết liên quan

Không có nhận xét nào :

Để lại Nhận xét